Người Thẩm Phẩng trên đỉnh Chế Ló

Thứ Tư, 21/05/2014, 10:47 [GMT+7]

Điện Biên TV - Đã từ rất lâu, nhắc đến Thẩm Phẩng - một bản vùng cao của xã Nặm Lịch, huyện Mường Ảng, ai cũng phải tặc lưỡi vì sự nghèo khó trên mảnh đất này. Họ nghèo không phải vì chưa chăm chỉ làm ăn mà bởi chưa biết tận dụng thổ nhưỡng, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng tìm hướng đi mới cho nông nghiệp. Nhưng giờ đây, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cuộc sống của Thẩm Phẩng đang dần bước sang trang mới, họ có quyền nuôi cho mình những ước mơ về tương lai tươi sáng...

“Có nhưng vẫn khó”

Cách trung tâm xã gần 30km, con đường ngoằn nghèo uốn lượn theo những đồi núi cao đưa chúng tôi đến với Thẩm Phẩng. Nhưng trước khi đặt chân đến nơi này, chúng tôi được nghe câu chuyện của ông Nguyễn Quang Trung, Chủ tịch UBND xã Nặm Lịch khi nói về Thẩm Phẩng: Thẩm Phẩng là bản nghèo của xã, mặc dù bản “có nhưng vẫn khó”. Như một lời lý giải, ông Trung nói tiếp: Không ai biết Thẩm Phẩng có từ bao giờ, người dân Thẩm Phẩng cũng không biết, chỉ biết Thẩm Phẩng nghèo... Tuy nói là nghèo nhưng không phải người ta nghèo vì không chịu làm ăn, họ vẫn hăng say sản xuất, miệt mài với mảnh đất nương trồng ngô, trồng lúa, chăm chỉ với những luống cày, luống bừa mong mùa vụ bội thu. Cũng như nỗ lực vươn lên thoát nghèo của người Thẩm Phẩng, những năm qua, Nhà nước từng bước quan tâm, đầu tư nhiều chương trình, dự án để phát triển kinh tế. Từ năm 2011, dự án giảm nghèo của tỉnh đã liên tục hỗ trợ, đầu tư con giống, vật nuôi như: bê, nghé, dê, vịt... đường ống dẫn nước, bể đựng nước sinh hoạt cho bà con nơi đây. Mặc dù đầu tư không ít, nhưng nguồn vốn của Nhà nước vẫn chưa được người dân phát huy tác dụng. Đến nay, trong tổng số 64 hộ, 330 nhân khẩu thì bản có tới 47 hộ nghèo, chiếm 74%. Nếu xét về tài sản, Thẩm Phẩng cũng không thua kém gì các bản khác trong xã. Hiện toàn bản có 72 chiếc xe máy, 50 con trâu, 108 con bò, 90 con dê nhưng Thẩm Phẩng vẫn là bản... nghèo.

Từ câu chuyện của chủ tịch UBND xã, xét cho cùng thì cũng thấy đúng, bởi nếu nhìn chung vào số liệu mà ông Trung đưa ra để chứng minh Thẩm Phẩng “có nhưng vẫn khó”, cho thấy, mọi tiềm năng để thoát nghèo của bản đều thuận lợi: từ sự cố gắng, cần cù, chịu thương chịu khó của người dân cho đến sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước. Thế nhưng có vượt khó hay không là nhờ vào nghị lực, sự sáng tạo bản thân mỗi người. Nói là như thế bởi người Thẩm Phẩng trên đỉnh núi Chế Ló bấy lâu không thiếu thứ gì, cái thiếu nhất của họ đó là sự sáng tạo và chưa mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất canh tác. Với trên 20ha đất đồi bằng phẳng, màu mỡ, nếu chuyển đổi thành trồng lúa 2 vụ, có lẽ...

v
Nông dân bản Thẩm Phẩng làm đất chuẩn bị cho vụ trồng ngô.


Kỳ vọng ở Thẩm Phẩng

Thật ra là khi nghe xong câu chuyện của ông Phó Chủ tịch, chúng tôi thấy bất ngờ. Bất ngờ vì trên đỉnh núi cao như thế thì làm sao có diện tích đất trồng trọt rộng và bằng phẳng đến như vậy. Và đến khi đặt chân đến Thẩm Phẩng thì tôi đã thấy, lời của ông Trung kể là đúng.

“Chế Ló – tên gọi của một quả núi mà người dân Thẩm Phẩng đã đặt, nó có nghĩa là không bao giờ dừng lại khi đương đầu với khó khăn. Và cũng tại nơi này, xưa kia tổ tiên người Thẩm Phẩng đã dùng sức mình san núi thành nương...”, lời giải thích của Trưởng bản Chá A Dua sau khi mời trà chúng tôi tại căn nhà của mình đủ để hiểu người Thẩm Phẩng xưa kia đã có truyền thống chịu khó cần cù.

Sau một hồi nói chuyện và tìm hiểu về con người nơi đây, chúng tôi biết bản Thẩm Phẩng có 100% là người Mông sinh sống. Từ ngôi nhà, phóng tầm mắt ra ngoài đồi nương, gọi là đồi nương bởi tại đây người dân vẫn thường gọi như thế, chứ thật ra có thể gọi là ruộng. Như theo quan sát, diện tích đất nông nghiệp của toàn bản chủ yếu là bằng phẳng, chỉ một số ít là ở ven sườn đồi. Thấy chúng tôi thắc mắc vì sao bản có một diện tích rộng, địa thế đẹp mà không canh tác lúa 2 vụ thì anh Dua vừa cười vừa nói: Dân bản mình xưa nay vẫn thế, chỉ trồng lúa, trồng ngô một vụ thôi. Do vậy trung bình một năm, mỗi hộ chỉ thu hoạch khoảng 1 tấn ngô, còn nếu trồng lúa thì ít hơn nhiều. Nhưng nay khác rồi, được cán bộ xã tới thuyết phục, vận động bản chuyển đổi lúa, ngô một vụ thành 2 vụ để tận dụng quỹ đất mang lại hiệu quả kinh tế. Theo anh Dua, một lần cán bộ xã thuyết phục, bà con không nghe, hai lần cũng không nghe nhưng nhiều lần thì nghe cũng có lý, ai nấy giờ đây cũng đang trông chờ vào nương lúa 2 vụ của hộ gia đình mình. Khi chúng tôi chưa hỏi đến vấn đề nước tưới cho cây lúa vào mùa khô, anh Chá A Dua đã đệm lời: Hơn 20ha diện tích đất dự tính sẽ chuyển sang trồng lúa 2 vụ, nước tưới sẽ được lấy từ đập đầu mối trên đỉnh núi này luôn. Hiện UBND xã đã kiến nghị lên cấp huyện đầu tư kinh phí để nhanh chóng xây dựng đập chứa nước. Chắc chẳng bao lâu nữa đất nương này sẽ chuyển thành ruộng lúa 2 vụ, bà con tha hồ thóc mà ăn, mà bán – anh Dua vui vẻ nói.

Đi quanh diện tích đất nương bằng phẳng, nhìn đồng bào bà con nơi đây đang miệt mài gieo những hạt ngô theo luống trâu cày cùng tiếng nói chuyện rôm rả khiến không khí trên đỉnh núi Chế Ló thêm phần náo nhiệt. Có lẽ, họ như những người nông dân nơi khác, nhờ vào cây lúa hy vọng cuộc sống sẽ đổi thay.

Trên con đường về trụ sở UBND xã, đầy những ổ trâu, ổ gà gập ghềnh lên xuống dường như không còn hiện ra trước mắt tôi. Bởi khi rời Thẩm Phẩng, tôi chỉ có một ý nghĩ chung vui cùng những con người trên đỉnh núi Chế Ló – một ngày không xa Thẩm Phẩng sẽ thay da đổi thịt.

 

Văn Quyết

.